Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

Nhạc sĩ Tuấn Khanh: Những điểm sa lầy tương đồng, giữa Phật giáo quốc doanh Trung Quốc và Việt Nam

Nhạc sĩ Tuấn Khanh: Những điểm sa lầy tương đồng, giữa Phật giáo quốc doanh Trung Quốc và Việt Nam

Tương tự như Trung Quốc, mối quan hệ giữa nhà cầm quyền và Phật giáo tại Việt Nam hết sức phức tạp. Đó là mối quan hệ lợi dụng qua lại lẫn nhau, mà các nhà phân tích xã hội gọi đó là bài tính có kết quả tổng bằng không cho cả hai bên. Bởi những người trung thành với lý thuyết Cộng sản dần dà tự tìm đến Phật giáo để tự chữa lành phần tinh thần trống rỗng của mình, một mô hình tín ngưỡng duy nhất được cho phép tồn tại đại chúng trong nền chính trị vô thần. Và ngược lại, những người mộ đạo thuần khiết thì dần dần tự rời bỏ không gian Phật giáo quốc doanh, vì nhận ra rằng đó chỉ là một trò mua bán tinh thần được dựng nên bằng tiền và chính trị.
Phật giáo ở Trung Quốc được hoạt động bình thường từ thập niên 1980, sau cái chết của Mao Trạch Đông, kẻ đã nhấn Phật giáo ở Trung Quốc xuống tận bùn đen, đẩy các giá trị ngàn đời của Chùa và kính sách vào ô nhục ở cuộc cách mạng văn hóa kéo dài từ 1966 đến 1976. Khởi đầu thì đó chỉ là chính sách sửa sai, nhưng pha trộn âm mưu mô hình Phật giáo do Ban tôn giáo của Trung ương Đảng chỉ đạo, thường được người đời gọi mai mỉa là Phật giáo quốc doanh. Nhưng rồi giới chóp bu ở Bắc Kinh nhanh chóng nhận ra, Phật giáo quốc doanh lại là một nguồn thu khổng lồ, có thể nuôi sống các bộ máy chính quyền hay quan chức địa phương, và lại dễ dàng đối ngoại như một kiểu “tự do tôn giáo”.
Ngay lập tức Chùa chiền, kinh sách, tượng Phật lớn kỷ lục… được dựng nên bằng tiền của các doanh nghiệp đầu tư, thậm chí tiền bẩn của các quan chức tham nhũng… nhằm thu hút dân chúng. Trong thời đại của Mao, chùa các nhà sư bị đẩy đi làm ruộng, chăn nuôi… để gọi là có ích cho sự phát triển đất nước. Nhưng đến thời đại của Đặng, các nhà sư được ăn mặc đẹp, tổ chức lễ hội… tạo ra nguồn thu lớn, mà nhà nghiên cứu người Trung Hoa Zhe Ji viết trong tiểu luận “Phật giáo và Nhà nước: Mối quan hệ mới” (2008), tạm gọi tên là “Nền kinh tế nhà Chùa” (monastic economy).
Ở Việt Nam, sau năm 1975, tôn giáo bị coi là “thuốc phiện của nhân dân”. Chùa bị chiếm, cơ sở Phật giáo và kinh sách vở bị tịch thu, nhiều tăng ni và tín hữu Phật giáo của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất bị bắt, kết án, giam lỏng, tù và đi cải tạo đến chết. Để tạo ra Giáo Hội của Nhà nước, một Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam đã được tổ chức tại Quán Sứ, Hà Nội, được triệu tập bởi Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam vào ngày 7 tháng 11 năm 1981, sau đó thành lập nên Giáo hội này, từ đó về sau được định nghĩa là giáo hội quốc doanh bởi tôn chỉ rất rõ “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội”. Dĩ nhiên, mục đích cũng nhằm thủ tiêu hệ thống Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Phật giáo Việt Nam bị dòm ngó như một loại con rơi, tạm tồn tại trong xã hội cộng sản. Nhưng đến năm 2003, Bộ chính trị Cộng sản VN nhận ra việc cho phép tín ngưỡng tồn tại có lợi cho mình hơn là tiêu diệt đi. Đặc biệt là sau thời gian 1995, khi Việt Nam được bỏ cấm vận và đối diện với Liên Hợp Quốc về nhiều vấn đề Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, bao gồm tự do tín ngưỡng.
Ngày 12 tháng 3, năm 2003, Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN ra nghị quyết số 25-NQ/TW, do đảng trưởng đảng CSVN là Nông Đức Mạnh ký, đã xác định một đường lối mới, cho phép tôn giáo được tồn tại trong xã hội, nhưng trong Mục II, phần 4, nhấn mạnh rằng “Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.”
Kể từ đó, Phật giáo quốc doanh ở VN được đẩy mạnh hoạt động, không chỉ về mặt vật chất và còn cả về con người được nhà cầm quyền đầu tư đi học lý thuyết Phật giáo, khoác áo làm sư và kiểm soát nhiều tăng viện. Thậm chí luồng nhân lực đó, được đẩy ra hoạt động ở hải ngoại, nơi có các cộng đồng người Việt tự do đang quần cư.
Giới Phật giáo (quốc doanh) tại Trung Quốc hiện tận hưởng nhiều tự do trong việc xây dựng các chùa chiền, tuyển mộ tăng sĩ, tổ chức các nghi lễ và truyền bá tín ngưỡng theo kiểu của họ” tác giả Raoul Birnbaum trong cuốn Buddhist China at the Century’s Turn (2017) cũng ghi nhận như vậy. Nhưng bên cạnh đó, khi thu được lợi nhuận từ “Nền kinh tế nhà Chùa”, nhà nước cộng sản cũng tự lũng đoạn các giá trị thuyết vô thần của mình khi để cho sự sùng bái tín ngưỡng tăng nhanh, hỗn loạn, thậm chí dẫn đến các cực của mê tín. 
Điều gì phải đến, rồi đã Raoul Birnbaum đến. Các vụ bê bối sư thầy và chùa ở Trung Quốc liên tục xuất hiện trong thập niên 90, qua đến tận lúc này. Rất nhiều lời chỉ trích đã xuất hiện trên các trang mạng Trung Quốc về chuyện các sư xài tiền như nước, và bao quanh là các nữ tín hữu trẻ đẹp. Gần đây lại là các vụ bê bối về tình dục đã bùng nổ, liên quan đến các sư danh tiếng ở Bắc Kinh, Hà Nam… và đó lại là những nơi dẫn đầu về “nền kinh tế nhà Chùa”.
Câu chuyện chùa Ba Vàng chỉ là một trong những nơi đang lạm dụng mê tín, phản bội tinh thần Phật giáo chính tông, phụng sự cho thế quyền và mua bán tín ngưỡng. Từ Nam chí Bắc, những lời ta thán như vậy vẫn xuất hiện không ngớt trên các trang mạng xã hội, cùng hình ảnh tố cáo. Nhưng nếu chú ý, hình thức trừng phạt những người đã tạo ra các bê bối đó – ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc – thường là kiểm điểm hoặc khai trừ khỏi các chức vị. Đó cũng là một biểu hiện cho thấy tổ chức tôn giáo giờ đây cũng hành xử như một chi bộ đảng, điều đó hoàn toàn khác biệt với một tổ chức tôn giáo chân chính.
Tuấn Khanh

Luận về cụm từ Việt Cộng. Nguyễn Quang Duy

Luận về cụm từ Việt Cộng.

Nguyễn Quang Duy
Ai cũng biết Việt Cộng là cộng sản Việt Nam, nhưng theo sách sử cụm từ lại mang nhiều ý nghĩa khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vào đầu năm 2018, nghiên cứu sinh sử Viện Đại Học Wisconsin-Madison, Brett Reilly công bố trên trang The Diplomat bài “Cội nguồn đích thực của cụm từ Việt Cộng”.
Brett Reilly cho biết đã phát hiện hai điều (1) cụm từ Việt Cộng và (2) cuộc nội chiến Quốc-Cộng đã khởi đầu từ những năm 1920 tại miền Nam Trung Hoa, hơn ba thập niên trước khi người Mỹ tham chiến tại Việt Nam.
Như vậy cuộc chiến Quốc-Cộng đã kéo dài gần trăm năm, vẫn còn tiếp diễn, thách thức phải viết lại lịch sử chiến tranh Việt Nam
Cứ mỗi tháng 4, cụm từ Việt cộng lại thường xuyên được nhắc đến trong cộng đồng người Việt hải ngoại, nhân 44 năm Sài Gòn thất thủ, xin được tóm tắt công trình nghiên cứu của Brett Reilly và giải thích lý do vì sao đảng Cộng sản Việt Nam luôn dị ứng khi được gọi chính danh là Việt Cộng.
 
Sách sử chính thống
Tự điển, sách sử, báo chí ngoại ngữ đều định nghĩa Việt Cộng là những du kích quân cộng sản chống lại quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn 1954-75.
Tác giả quyển “Victory at any cost” (Chiến thắng bằng mọi giá) Cecil B. Currey còn quả quyết rằng cụm từ do Thiếu tướng tình báo Mỹ Edward Lansdale cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nghĩ ra từ tiếng Anh Vietnamese Communists - Vietcong.
Lansdale nhận thấy các cán bộ Việt Minh hoạt động ở miền Nam sau 1954 là những người vừa đánh bại quân Pháp nên có uy tín với dân là mối đe dọa quyền lực của Tổng thống Ngô Đình Diệm, nên đề nghị ông Diệm đừng gọi họ là Việt Minh mà gọi bằng một tên mới là Việt Cộng, để người dân miền Nam lầm tưởng rằng đây là 2 lực lượng khác nhau.
Từ đó các sử gia Mỹ theo trường phái chính thống lập luận rằng Mỹ phạm sai lầm khi tham gia chiến tranh, biến xung đột của những người nổi dậy có tinh thần dân tộc tại miền Nam thành chiến trường chiến tranh lạnh giữa Mỹ, Nga và Tàu.
Còn các sử gia theo trường phái xét lại cho rằng Việt Cộng là cụm từ thích hợp để minh hoạ việc Nga, Tàu và Bắc Việt lãnh đạo cuộc nổi dậy tại miền Nam, Mỹ tham gia để ngăn chặn sự lan rộng của cộng sản xuống vùng Đông Nam Châu Á.
Qua nghiên cứu, Brett Reilly biết được cụm từ Việt cộng bắt nguồn từ tiếng Trung Hoa “zhonggong” phát âm tiếng Việt là “Trung cộng”.
Cụm từ này đã được những người Việt bị Pháp truy lùng phải trốn sang miền Nam Trung Hoa vào những năm 1920 sử dụng.
Việt Cộng chỉ những người Việt theo chủ nghĩa quốc tế cộng sản, còn những người Việt theo chủ nghĩa quốc gia được gọi là Việt Quốc.
 
Nội chiến bắt đầu…
Một cụm từ khác được Brett Reilly đề cập tới là cụm từ Việt gian cũng bắt nguồn tiếng Trung Hoa “Hanjian” phát âm là Hán gian chỉ những người Trung Hoa phản quốc.
Cuối thập niên 1920, khi Quốc Dân Đảng Trung Hoa nhận định rằng chủ nghĩa quốc tế cộng sản thực chất chỉ là chủ nghĩa thực dân kiểu mới của nước Nga Sô viết và như thế Trung Cộng những người Trung Hoa theo cộng sản là Hán gian phản quốc.
Cuộc chiến này ảnh hưởng đến Việt Cộng và Việt Quốc, một bên theo Mao còn bên kia theo Tưởng, khơi mào cuộc nội chiến ý thức hệ giữa những người Việt chống Pháp lưu vong tại miền Nam Trung Hoa.
 
Nhập cảng Việt Nam…
Theo Brett Reill, cuộc chiến lan sang miền Bắc Việt Nam, các bên tiến hành theo dõi lẫn nhau và thỉnh thoảng lại ám sát những kẻ mà họ nghi là người được phía bên kia trà trộn vào.
Trên Tràng An Báo, xuất bản tại Huế, năm 1938, Cụ Phan Bội Châu tuyên bố những người theo cộng sản là:
“những người lợi dụng chủ nghĩa xã hội nhằm chia rẽ đất nước, phá hoại sự thống nhất, tiêu diệt tinh thần quốc gia, dân tộc”.
Đáp lại, ông Võ Nguyên Giáp và ông Trường Chinh, hai lý thuyết gia cộng sản, trên tờ báo Pháp thiên tả Notre Voix (Tiếng Nói của Chúng Ta), tuyên bố Cụ Phan Bội Châu là “tên phản quốc”.
Có thông tin cho biết chính lãnh tụ cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã báo cho thực dân Pháp bắt Cụ Phan Bội Châu để lãnh thưởng.
Trận chiến Quốc-Cộng không chỉ diễn ra gay gắt trên các cột báo, mà còn diễn ra bên trong hệ thống nhà tù thuộc địa.
Một bản sao cương lĩnh 12 điểm, năm 1935, của Việt Nam Quốc dân đảng, được tìm trong nhà tù ở Hà Nội, liệt kê hai mục đích đầu tiên của đảng là nâng cao nhận thức về dân tộc Việt Nam và xoá bỏ chủ nghĩa cộng sản.
Ở nhà tù Côn Đảo, cuộc xung đột ý thức hệ dẫn đến những trận thanh toán gây chết người. Trần Huy Liệu, từng là Bí thư kỳ bộ Nam kỳ Việt Nam Quốc dân đảng, theo cộng sản khi bị tù tại Côn Đảo, hồi tưởng:
“Gió biển lạnh lẽ ở Côn Đảo không thể xua tan được bầu không khí căm thù bao quanh hòn đảo”.
 
Việt Minh cướp chính quyền 19/8/1945
Sau một giai đoạn rất ngắn hợp tác, hai phía Quốc-Cộng lại sử dụng từ “Hanjian” - Hán gian cho các đối tượng được họ ghép cho là Việt gian phản quốc, khởi động cuộc nội chiến đẫm máu.
Các đơn vị Việt Minh trung thành với Võ Nguyên Giáp tấn công các đảng quốc gia, buộc những người quốc gia một lần nữa phải trốn sang Trung Hoa.
Những người theo cộng sản đệ tam giết cả những người cộng sản đệ tứ, những tổ chức yêu nước không bị ảnh hưởng của Tưởng Giới Thạch, những giáo phái yêu nước như Đạo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài, giết tất cả những ai không chấp nhận sự thống trị của cộng sản đệ tam.
Khi chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946, những nhóm người Việt yêu nước không theo cộng sản liên kết với nhau, chịu sự lãnh đạo của cựu hoàng Bảo Đại và cộng tác với Pháp để từng bước giành độc lập bằng biện pháp hòa bình và hợp tác.
Khi người Mỹ cắt viện trợ và ngừng bán vũ khí cho chính phủ Tưởng Giới Thạch, các lực lượng Trung Cộng do Mao Trạch Đông lãnh đạo ngày càng tiến gần đến biên giới phía Bắc.
Theo Brett Reill đến năm 1948, những tờ báo có tinh thần dân tộc chống Pháp đã sử dụng cụm từ Việt Cộng, như trên tờ Tiếng Gọi của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã có bài báo động:
“Nếu quân đội Việt Cộng có thể bắt tay với Trung Cộng ở biên giới Trung Việt, thì cái gì ngăn cản được quá trình cộng sản hóa Việt Nam?”
Nếu cụm từ Việt Cộng có nghĩa xấu, thì nó chỉ xấu vì các đảng quốc gia đã liên kết người cộng sản Việt Nam (Việt Cộng) với người cộng sản Trung Hoa (Trung Cộng).
Đến năm 1950, Trung cộng viện trợ cố vấn, quân sự, kinh tế, Việt Minh bắt đầu chuyển thành nhà nước toàn trị, thực hiện chỉnh huấn, chỉnh quân, cải cách ruộng đất theo đường lối Mao Trạch Đông.
Chính quyền Quốc gia dưới sự lãnh đạo của cựu hoàng Bảo Đại thường xuyên sử dụng cụm từ Việt Cộng trong các thông tin chính thức để tố cáo ban lãnh đạo Việt Minh là cộng sản.
Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do đó chỉ kế thừa việc sử dụng cụm từ Việt Cộng để gọi tất cả những người Việt theo cộng sản không kể Bắc Nam.
Công trình nghiên cứu Brett Reill chấm dứt ở đây, để lại một câu hỏi lớn là những người miền Nam thua cuộc vẫn luôn hãnh diện với danh xưng Việt Quốc hay người Việt quốc gia, còn ngược lại đảng Cộng sản Việt Nam mặc dầu thắng trận lại luôn dị ứng khi bị nêu đích danh là Việt Cộng.
 
Sự thật lịch sử.
Nếu Hồ Chí Minh có hằng trăm tên, tuổi, bút danh, thay đổi tùy tình hình quốc tế cộng sản và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam thì đảng Cộng sản cũng thế.
Đảng Cộng sản từng bỏ cả tên cộng sản, để lấy tên Hội Truyền Bá chủ nghĩa Mác-Lênin, đảng Lao Động, đảng Nhân Dân Cách Mạng, hay lập ra hai đảng ngoại vi là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội.
Trong từng thời kỳ đảng Cộng sản còn sử dụng các tổ chức như Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, Việt Minh, Mặt trận Giải Phóng miền Nam, nhiều các tổ chức ngoại vi khác để hoạt động cộng sản.
Nếu Hồ Chí Minh phải lấy bút danh nhà báo C.B. (Của Bác) để viết bài “Địa Chủ Ác Ghê” trên báo Nhân Dân đấu tố đến chết điền chủ Nguyễn thị Năm.
Thì đảng Cộng sản cũng phải sử dụng đảng Nhân Dân Cách Mạng, Mặt trận giải phóng miền Nam, Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam Việt Nam, để đánh lừa dư luận, chiến tranh tại miền Nam là cuộc nổi dậy của người miền Nam yêu nước, không do cộng sản miền Bắc lãnh đạo.
Ở nông thôn người dân thường xuyên bị Việt Cộng đe dọa, bị khủng bố, bị xử tử hay bị bắt lên rừng giam cầm đến chết.
Ở thành thị Việt Cộng càng ngày càng gia tăng đặt bom hay pháo kích khủng bố.
Biến cố Mậu Thân 1968, Việt Cộng tấn công Thủ đô Sài Gòn và nhiều thành phố lớn tại miền Nam giết và bắt lên rừng hằng chục ngàn thường dân.
Riêng tại Huế lên đến 5,000 người bị giết hay chôn sống, nhiều ngàn người khác bị bắt lên rừng không có ngày về.
Chiến tranh càng gia tăng thì hình ảnh tội ác Việt Cộng càng được phổ biến trên Đài Truyền Hình hay qua báo chí.
Cụm từ Việt Cộng trở thành ác mộng thành nỗi kinh hoàng của người dân miền Nam.
Khi chính phủ Hoa Kỳ bỏ cuộc “cút” khỏi miền Nam, nhiều người ở thôn quê, ở thị xã hay tỉnh nhỏ sợ Việt Cộng phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn lên Sài Gòn hay các thành phố lớn.
Tháng 3/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, thì từng đoàn người Kinh bỏ nhà, bỏ cửa, đồng bào Sắc Tộc bỏ buông làng dìu dắt chạy trốn Việt Cộng.
Cuộc rút quân (và rút dân) hoàn toàn thất bại, quân đội Bắc Việt kéo vào tiếp thu Huế, Đà Nẵng, rồi cuối cùng tiếp thu Sài Gòn ngày 30/4/1975.
Sau ngày tang thương này, người miền Nam bị tù cải tạo, bị đánh tư sản, bị đi kinh tế mới, cả một guồng máy cai trị từ miền Bắc đưa vào, đến công an khu vực cũng là người miền Bắc, buộc người miền Nam phải bỏ nước ra đi.
Với người miền Nam cụm từ Việt Cộng vẫn là nỗi kinh hoàng luôn ám ảnh, như chiến tranh Quốc-Cộng gần trăm năm vẫn chưa chấm dứt.
Đảng Cộng sản sợ sự thật về mối liên hệ gắn bó từ tư tưởng đến hành động với đảng Cộng sản Trung Hoa – “zhonggong” – Trung Cộng, sợ sự thật về chiến tranh Việt Nam và tội ác họ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.
Họ sợ sự thật lịch sử bởi thế họ rất dị ứng khi được nêu chính danh là Việt Cộng.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
30/4/2019

Di Sản VNCH với Việt Nam bây giờ và tương lai Vũ Thăng Long

Vũ Thăng Long
image.png
Bài viết tâm tình dưới đây của một Chuyên gia Kinh tế-Tài chính từng làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Money Fund, IMF) gần 30 năm. Cũng như những người khác phải bỏ miền Nam ra nước ngoài sống đời tị nạn, Tác giả Vũ Thăng Long muốn gửi đến độc giả những suy nghĩ của ông về một viễn ảnh Việt Nam nhân ngày 30/4.
(Viết nhân ngày 30/4/2019)

Đáng lẽ bài này được dành cho ngày 30/4 năm tới (2020) để đánh dấu 45 năm sau ngày miền Nam VN bị quân đội Cộng sản miền bắc cưỡng chiếm bằng võ lực.

Nhưng tác giả muốn gửi đến Độc giả sớm một năm, không chỉ để nhớ về dĩ vãng vui ít buồn nhiều vào mỗi dịp tháng 4, mà còn nhằm duyệt lại những thành tựu không thể phủ nhận của 21 năm Việt Nam Cộng hòa (1954-1975) đã để lại cho Việt Nam bây giờ và trong tương lai.

Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi muốn nhìn lại “Hội chứng (“Syndrome”) Việt Nam” từ 44 năm qua để xác định tại sao trên 4 triệu người Việt đã phải rời xa xứ sở năm 1975 và các năm sau đó để hóa giải mặc cảm của “Bên Thua Cuộc”. 

Đồng thời, nhưng quan trọng hơn, là để tri ân những thành tích của các bậc cha anh đã để lại trong “Di Sản VNCH” càng ngày càng rõ rệt, mà đồng bào cả nước bây giờ không thể phủ nhận.

Trước tiên, di sản lớn nhất của VNCH đã để lại cho thế hệ sau 1975 phải nói đến là nền âm nhạc phong phú, đa dạng và chan chứa tình tự dân tộc và văn hóa dân gian. Dù đã có những chỉ thị và chủ trương tiêu diệt tận gốc rễ của chính quyền Cộng sản từ ngay sau tháng 4/1975, nhưng nét văn hóa bất diệt này vẫn tồn tại ở miền Nam và sau đó lan dần ra miền Bắc. Ban đầu chỉ có một số nhỏ bài hát được phép trình diễn chính thức, nhưng danh sách này lớn dần và đến nay thì hình như không có lệnh cấm giới hạn nữa. Phong trào ưa nhạc Bolero, hay còn được gọi là “Nhạc vàng” tràn ngập bây giờ là thí dụ hùng hồn nhất. Tuy nhiên trong giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các di sản chính khác về giáo dục, kinh tế, chính trị hành chính và xã hội.

Tự Hào Tuổi Trẻ và Giáo Dục Miền Nam


Đọc xong vài quyển sách gợi chuyện cũ, tưởng như đã được rũ sạch nỗi ấm ức cái "hội chứng Việt Nam" (Vietnam syndrome) từ lâu về một đất nước phú cường văn minh như Nam Hàn phải có trong giấc mơ cho xứ mình. 

Thật sự từ trên 40 năm nay, sau khi du học ở tuổi 18 rồi ra trường, sống và đi làm nhiều nơi, tôi vẫn chưa tỉnh hay thoát ra khỏi "NÓ". Tôi chưa giải tỏa được nỗi ấm ức của "giấc mơ xưa” ở tuổi thanh xuân. Tôi từng có những giấc mơ đội đá vá trời và lòng tự tin nhưng suốt đời vẫn chưa tìm thấy chốn "dung thân" để phục vụ lý tưởng tuổi nhỏ. 

Đã từng về sống và làm việc ở Sài gòn suốt 12 năm từ 2003 đến 2014 lúc tóc đã hoa râm, nhưng rút cục tôi cũng chỉ tìm thấy nỗi u hoài của một thời đã mất, thay vì cái lý tưởng của một thời nung nấu.

Trong những năm tháng đó, nhìn lại hàng ngày thấy rõ sự phồn thịnh hơn của xã hội về vật chất so với những ngày tuổi trẻ miền Nam của tôi, nhưng tôi vẫn tò mò tìm hiểu nơi đám người tuổi trẻ hiện nay, xem họ có chia sẻ cái "phần hồn ngày xưa" của đám anh em chúng tôi đã lớn lên trong cùng thành phố này.

Những ý nghĩ bên tách cà phê làm sống lại hình ảnh những con đường phố cũ - thuở tôi còn cắp sách đi học cấp 2 và 3 (trung học đệ nhất và đệ nhị cấp ngày trước), gò lưng mỗi ngày trên chiếc mobylette vàng của một thằng học trò lớp Đệ nhất (lớp 12 bây giờ) phóng từ ngôi nhà đường Duy Tân, đến ngôi trường trung học Chu Văn An thân yêu, học hành chăm chỉ cũng có nhưng còn dành thì giờ đi làm báo trường dịp Tết hay tham gia các hoạt động văn nghệ. 

Chúng tôi lớn lên trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, nhưng may mắn còn được hấp thụ một nền giáo dục, tuy mang tiếng "từ chương" lý thuyết nhưng vẫn có một giá trị tối thiểu nào đó được chứng minh sau này khi đàn chim non miền Nam chúng tôi tốt nghiệp trung học, bay ra khắp các chân trời thế giới đã ghi lại nhiều thành tích trong các trường đại học Âu Mỹ.

Chúng tôi còn may mắn lớn lên trong một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người vẫn còn mạnh mẽ. 

Nhất là thời kỳ "vàng son" 1955-63 của nền Đệ nhất Cộng hòa trong thanh bình thịnh vượng của một VNCH dân chủ tương đối.

Đáng nói nhất là đám thiếu niên tuổi 15-16 thuở chúng tôi đã manh nha một lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng một đất nước phú cường bằng sự chăm chỉ học hành trau dồi kiến thức, mơ tưởng đến một nền kinh tế hùng mạnh, một xã hội ấm no công bằng. Chúng tôi chỉ có ý nghĩ đơn giản như đại đa số thanh thiếu niên trong các nước Á châu khác lúc ấy, là sẽ cố gắng học hành hay làm việc để xây dựng đất nước bằng một nền kinh tế vững chắc. Đó là lưu dấu kỷ niệm đậm đà nhất của tuổi thanh niên mới lớn ở miền Nam. 

Sau này khi có dịp về sống và làm việc ở Sài Gòn rồi ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê ở quán Continental, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng như đua chung quanh Nhà hát Thành phố (Trụ sở Hạ nghị viện VNCH trước 1975) của những người trẻ tuổi bây giờ. 

Họ đang diễn hành, la hét ầm ĩ, ngay cả vài cô ăn mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy Honda đắt tiền kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn vừa thắng các hội Thái Lan hay Mã Lai. Họ hét to "Việt nam vô địch" như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động. 

Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là "non trẻ" này, khi các nhóm trẻ từ 20 đến 40 tuổi được ước tính chiếm 40% dân số, vẫn là một ẩn số lớn về xã hội và chính trị.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những "mô tô bay" như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường "đi bão, xuống đường" tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận vừa thắng "kẻ địch”.

Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng. Họ có vẻ ít nghĩ xa như vậy.

Những người lớn tuổi xưa cũ của thành phố này thường tỏ lộ u hoài, nói với tôi là họ nhớ lại các thế hệ cùng tuổi như chúng tôi dạo 1960-1970. Ngay chính Bà Chủ tịch Quốc hội đương thời, Nguyễn Thị Kim Ngân, vốn gốc tỉnh Bến tre thời VNCH, cũng phải tâm sự lên tiếng khen nền giáo dục cũ của miền Nam.

Những ý nghĩ vụn này đã tạo dịp cho tôi được sống lại những tự hào của một thời tuổi trẻ trong thành phố Sài gòn, được hưởng nền giáo dục VNCH, với lý tưởng mộng mị cho một Việt Nam hùng mạnh tương lai. Ra đi du học mong trau dồi kiến thức với tâm huyết hừng hực của một thanh niên tuổi 20, và sau này lúc ra đời làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn mang trái tim phục vụ tuổi 30 dù mái tóc đã điểm sương. 

Và cùng với người Sài gòn bấy giờ, tôi vẫn thấy bừng lên sức sống với giấc mơ xưa: Biết đâu sẽ có một ngày?

Di Sản Cộng hòa Cho VN Bây Giờ là gì ?


A) VNCH thành công trong việc phát triển nền kinh tế thị trường thực sự:

Dù chưa được quen thuộc nhiều với các định chế kinh tế và tài chính quốc tế hay các nền kinh tế tư bản lớn, VNCH đã biết sớm theo các qui luật của nền kinh tế thị trường và nhất là nhấn mạnh vai trò khu vực tư nhân…

Điều này tương phản hoàn toàn với nền kinh tế VN bây giờ, sau 44 năm thống nhất, vẫn loay hoay với lý thuyết “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà không ai chứng minh được. Các thay đổi lớn sau ba thập niên Đổi Mới từ những năm 1986-1989 đã giúp VN có một bộ mặt tương đối phồn thịnh ở các thành thị, nhưng đi dần vào bế tắc nếu không có các cải cách thể chế song hành với cải cách kinh tế ở giai đoạn tới. So sánh thời kỳ 21 năm dưới VNCH với thời gian ít hơn một nửa so với 44 năm của nước VN thống nhất, hai di sản kinh tế nổi bật của VNCH là:

CÁCH MẠNG “XANH”

Đặc biệt là chính sách “Cải Cách Điền Địa” dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa được tiếp nối bởi “Người Cày Có Ruộng” dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhằm lấy lại các mảnh ruộng bao la nằm tập trung trong tay một số nhỏ đại điền chủ từ thời Pháp thuộc, phát đất rộng rãi cho các tầng lớp nông dân và khuyến khích tự do trồng trọt, nhất là lúa gạo, để miền Nam tự cường. Ngoài ra, và quan trọng nhất, là những năm về sau Chính phủ VNCH đã cho áp dụng một chính sách qui mô cho gieo hạt lúa mới “Thần Nông” trên toàn vùng đồng bằng Cửu Long, làm tăng gia đột biến năng suất trồng lúa và mức sản xuất gạo của đất nước, đưa đến cả khả năng xuất cảng gạo bắt đầu vào năm 1974. Đây là thành tích kinh tế đáng kể của VNCH khi cuộc chiến tương tàn cũng đi vào giai đoạn ác liệt nhất.

Nước VN thống nhất sau tháng 4, 1975 mới chỉ nhận ra tầm quan trọng của chính sách sản xuất lúa gạo tự do với Đổi Mới từ năm 1986 khi đến bờ vực của nạn đói, lúc không sản xuất đủ gạo ăn và dân chúng bắt đầu phải trộn cơm với bo bo từ những năm 1980. Từ khi chính phủ trung ương ở Hà Nội thay đổi chính sách bằng “ngòi bút” từ nghị quyết năm 1986 cho phép dùng giá cả và sản xuất tự do, di chuyển gạo từ vùng thừa sang vùng thiếu, đã làm lại cuộc “cách mạng xanh” nói trên của VNCH, khởi đầu toàn chiến lược đổi mới nông nghiệp và tiếp đó “lột xác” toàn nền kinh tế trong ba thập niên theo sau. Điều đáng lưu ý là cuộc cách mạng này đã được thừa hưởng di sản có sẵn của chính sách tự do trồng trọt ở đồng bằng Cửu Long, diện tích trồng đã được phân phối rộng và công bằng ở miền Nam, và nhất là kiến thức nông gia trong việc canh tác lúa “Thần Nông” đã có sẵn. Đáng kể hơn là việc có thể đem kỹ thuật và giống lúa này ra đồng bằng sông Hồng ngoài Bắc, khiến mức sản xuất lúa gạo của toàn cõi tăng kỷ lục, và không ngạc nhiên khi chỉ chục năm sau VN đang từ thiếu gạo ăn trong nước, trở thành xứ xuất cảng gạo hạng ba thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

DẦU NGOÀI KHƠI

Ngoài ra VNCH còn khuyến khích tìm ra vài “túi” dầu hỏa đầu tiên vào các năm 1973-74 ở thềm duyên hải Vũng Tàu, chỉ tiếc là chưa kịp thì giờ và vốn đầu tư khai thác để tìm ra dung lượng lớn đáng kể đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu an ninh do cuộc chiến tiếp diễn hàng ngày đã là yếu tố quyết định khiến các nhà đầu tư ngần ngại. Nhiều quan sát viên quốc tế và nhà bình luận chính trị sau này đã tiếc cho VNCH là chưa đủ thời gian để khai thác các mỏ dầu và khí ngoài khơi khổng lồ, nhất là đủ để hấp dẫn các hãng dầu Hoa kỳ. Nếu có, và nếu các hãng này ký kết khai thác với chính phủ miền Nam dạo đó, chưa chắc gì có cảnh Henry Kissinger ký kết bán đứng VNCH vào năm 1972, sửa soạn cho hiệp định ngừng bắn Paris 1973 và ngày nhân dân miền Nam phải bỏ cuộc tháng 4/75. 

Sau 1975, nước VN thống nhất thừa hưởng trọn vẹn và dầu khí từ miền Nam trở thành tài nguyên chủ lực của nền kinh tế VN bây giờ. Ngoài việc đem lại số xuất cảng đáng kể hàng năm cho dân chúng và nguồn lực phát triển, đáng tiếc là một phần tài nguyên đó cũng bị mất mát do tham nhũng và đầu tư phung phí như các tài liệu điều tra mới đây về đầu tư ở Venezuela chỉ ra. Không cần nhìn đâu xa phức tạp hơn, phải chăng một phần di sản của VNCH là đây?

B) Nền dân chủ của VNCH:

- Nền dân chủ phôi thai của Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) trong khung cảnh mới dành lại độc lập và nền dân chủ được củng cố thêm của Đệ Nhị Cộng Hoà (1967-1975) tuy khiêm nhượng và tương đối, do bị đe dọa hàng ngày bởi cuộc chiến, vẫn cho phép nhân dân miền Nam sống hạnh phúc trong khuôn khổ nhân quyền được tôn trọng theo hiến chương Liên Hiệp Quốc và các quyền tự do căn bản nhất như bầu cử, ngôn luận, hội họp, biểu tình v.v… vẫn được thực thi. 

- Chủ trương pháp trị, hay thượng tôn pháp luật (“rule of law”) của cả hai nền Cộng hòa với bầu cử Quốc hội và Tổng Thống tương đối tự do; nền hành chánh trung ương và địa phương được điều khiển bởi các chuyên viên kỹ trị được đào tạo bài bản trong các trường chuyên môn (thí dụ nổi bật là trường Quốc gia Hành chánh của miền Nam). Ở mỗi tỉnh, người tỉnh trưởng là nhân vật chính trị hay quân sự do Chính phủ trung ương bổ nhiệm, nhưng Phó Tỉnh trường thường là chuyên viên kỹ trị. 

Trái lại, VN thống nhất bây giờ trong chế độ Cộng sản mới chỉ cổ võ cho bầu cử tự do nhưng chưa bao giờ được thực hiện trong thực tế qua các cuộc ứng cử và bầu cử các Hội đồng Nhân dân và Đại biểu Quốc hội. 

Tương tự, VN bây giờ mới bắt đầu học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chánh như dưới thời VNCH và cử chuyên viên kỹ trị ở cấp trung ương và địa phương. Quốc hội VN bây giờ mới sửa soạn các dự thảo luật đề nghị bổ sung thẩm quyền của Thủ Tướng trong việc áp dụng những mô hình mới về tổ chức bộ máy từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trung ương, và chính quyền địa phương cấp Tỉnh và cấp Huyện. Theo đó, Thủ Tướng cũng có thêm quyền thành lập, sát nhập, hay giải thể các cơ quan, tổ chức hành chính khác thuộc cấp Tỉnh và cấp Huyện.

C) Các tổ chức Xã hội Dân sự:

Các tổ chức này dưới thời VNCH được tự do thành lập và hoạt động với qui chế tự trị về cả hành chính và tài chính. Thí dụ như Tổng liên đoàn Lao công hay các Tổ chức chính trị, xã hội và Hiệp hội.

Ngược lại nhà nước CSVN thống nhất bây giờ đã tìm mọi cách để trì hoãn không trình ra Quốc hội hai Dự luật lập hội và Biểu tình, mặc dù hai quyền này của dân đã quy định trong Hiến pháp 2013. 

Người dân cũng không được quyền ra báo, như đã quy định trong “quyền tự do ngôn luận” ở Điều 25 Hiến pháp 2013 (Điều 25 viết:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

LỜI KẾT 


Như nói ở trên, những dòng viết ngắn của tôi nhân dịp 44 năm từ biến động lịch sử 30/04/75 không phải là để thêm nước mắt cho một đau buồn còn ghi đậm dấu trong tâm hồn tôi, một con dân Việt Nam Cộng hòa cũ. 

Với thời gian hơn 50 năm từ tuổi thiếu niên rời trường, ra nước ngoài du học, rồi bôn ba theo vận nước nổi trôi làm việc bên ngoài, tôi lại tìm cách “chim quay về tổ” trong 12 năm để tò mò xem xứ mình ra sao. Nhưng cuối cùng, sau những trải nghiệm với thực tế và con người “mới”, tôi lại phải ra đi tìm về một nơi qui ẩn để nghĩ lại đời mình và quê hương cũ một cách bình tĩnh hơn.

Theo tôi, chúng ta trên nguyên tắc là người thuộc “Bên Thua Cuộc” với hai cơ hội bỏ lỡ từ thời 1963 của Đệ nhất Cộng hòa và 1975 của thời Đệ nhị Cộng hòa. Nhưng không phải hoàn toàn do lỗi chúng ta, mà quan trọng hơn là do sự phản bội của nước bạn “đồng minh” Hoa Kỳ không giữ lời cam kết ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng Cộng sản. Lời hứa bằng giấy trắng mực đen của Tổng thống đảng Cộng hòa Richard Nixon lúc bấy giờ đã hứa bằng văn thư với Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ông Thiệu bằng lòng ký Hiệp định Paris 1973.

Do đó mà chúng ta đành chấp nhận kiếp tha hương hiện tại do số mệnh đi từ vận nước không khá kéo dài suốt từ hơn 70 năm nay.

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai. Các kênh truyền thông và các cuộc tiếp xúc của tôi với người trong nước đều cho thấy đại đa số đồng bào ta đều hướng về di sản đó với lòng thán phục và thiện cảm, cũng như lòng ngưỡng mộ của họ với các nền dân chủ tiến bộ phương Tây. Nhất là các thế hệ trẻ 25-55, lớp người quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam trong 5-10 năm nữa, sẽ nối tiếp bó đuốc lãnh đạo và, cùng với thế hệ trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại quay về, họ sẽ có thể hướng đất nước về một hướng tốt đẹp hơn nhiều.

Khi tuổi đời chồng chất, và biết thêm chút ít về Kinh Dịch của các bậc cha anh ngày trước, tôi tin vào lẽ tuần hoàn của Trời Đất sẽ phải áp dụng cho quê hương cũ: “Cùng tắc biến, biến tắc thông…” 

Trong hàng ngũ di cư tị nạn, nhiều người ở tuổi 30-50 --lãnh đạo cũ năm 1975, đã xa rời chúng ta. Bên kia trời quê hương cũ, những người lãnh đạo bên “Thắng Cuộc” tuổi 60-80 dù không muốn tạo vận hội mới cho đất nước vì tham vọng giữ quyền hành, liệu có thắng nổi dòng thời gian với sức khỏe và tuổi già của họ trong 5-10 năm nữa? 

Đất nước không thể “tắc” mãi như thế này, và sắp đến lúc phải có chữ “THÔNG” mà thôi! 

Vũ Thăng Long

(Trích từ:”Một Đời Người: Nổi Trôi Theo Vận Nước” sẽ xuất bản)

(*) Một Bút danh khác của một cựu Chuyên viên Kinh tế-Tài chính của IMF.
__._,_.___

Cựu sinh viên Y khoa TQ: Ký ức thu hoạch nội tạng sống kinh hoàng

Cựu sinh viên Y khoa TQ: Ký ức thu hoạch nội tạng sống kinh hoàng
Phần hồi ức dưới đây được George Zheng, một cựu sinh viên Y khoa Trung Quốc hiện đang sống tại Toronto, kể lại với tờ Epoch Times. Anh là người đã trực tiếp tham gia và chứng kiến việc thu hoạch nội tạng từ người còn sống khi còn là sinh viên thực tập chuẩn bị tốt nghiệp trong một bệnh viện tại Trung Quốc. Vì lý do an toàn của bản thân George Zheng, một số chi tiết xác định thời gian và thân phận cụ thể đã bị lược bỏ.
Ký ức thu hoạch nội tạng sống kinh hoàngGoerge Zheng giấu mặt do lo ngại vấn đề an toàn của bản thân. Hiện anh đang sống tại Toronto, Canada.
***
Sự việc mà tôi mô tả diễn ra vào những năm 1990. Vào thời điểm đó, tôi là một sinh viên sắp tốt nghiệp từ một trường quân y tại Trung Quốc. Tôi đang thực tập tại Khoa tiết niệu, bệnh viện Đa khoa Quân đội Thẩm Dương (Shenyang Army General Hospital). Một ngày, bệnh viện nhận được cuộc gọi từ Khu Quân sự Thẩm Dương ở phía Bắc Trung Quốc, yêu cầu một số nhân viên y tế ngay lập tức lên xe để thực hiện một nhiệm vụ quân sự.
Nhóm 6 người được chọn bao gồm 2 nữ y tá, 3 bác sĩ quân y nam, và tôi – một thực tập sinh. Khoa ra lệnh: Kể từ thời điểm đó, chúng tôi phải cắt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài, bao gồm cả người thân và bè bạn.
Chúng tôi ngay lập tức lên một chiếc xe thùng, bên trong toàn bộ là màu xanh dương nhạt. Bệnh viện cũng phái thêm một xe quân sự. Cửa xe quân sự chưa đóng lại, và tôi có thể nhìn thấy một người lính đang cầm súng.
Xe quân sự dẫn đường. Sau khi lên đường cao tốc, xe quân sự hú còi, và các xe khác tránh đường. Chúng tôi di chuyển với tốc độ rất cao.
Cuối cùng, chúng tôi tới nơi, và sau khi ra khỏi xe thùng, chúng tôi phát hiện mình đang ở một nơi được núi bao bọc xung quanh. Binh lính đang đứng gác xung quanh một tòa nhà. Nhân viên quân đội đón chúng tôi nói rằng tòa nhà này là một nhà tù quân sự nằm gần thành phố Đại Liên, Đông Bắc Trung Quốc.
Đêm hôm đó, chúng tôi ở lại nhà khách quân đội; binh lính đứng gác bên ngoài phòng của chúng tôi. Buổi sáng, 1 y tá và 2 lính đi tới nhà tù để thu thập và phân loại mẫu máu. Sau khi họ trở về với mẫu máu, chúng tôi lên xe thùng và đi khỏi.
Xe dừng, tôi nhìn qua khe cửa và thấy lính gác đang bao quanh xe thùng, tay cầm súng máy. Họ đang quay lưng lại phía chúng tôi.
Chúng tôi chờ trong xe; không được phép cử động. Đột nhiên, có tiếng gõ cửa. Tôi mở cửa và nhìn thấy 4 lính đang khiêng một thanh niên. Anh ta bị dây thừng cuốn quanh cổ và chân, tay bị trói sau lưng. Anh ta không cử động.
Anh ta bị đưa vào xe thùng, và đặt trên một túi nhựa đen được để trên sàn trước đó. Túi này bao phủ toàn bộ sàn, và khi quan sát, tôi biết nó được đặc chế.
Người thanh niên bị trói bằng dây thừng mỏng – loại có thể cắt vào da thịt nếu bị gây áp lực.. Anh ta bị trói theo cách mà, nếu một người đứng trên dây trói từ cổ kéo dài tới hai tay ở đằng sau lưng, anh ta sẽ không thể di chuyển hay vùng vẫy được. Nếu anh ta vùng vẫy, dây trói sẽ chặt hơn, và anh ta sẽ bị bóp nghẹt cổ.
Một trong các bác sĩ yêu cầu tôi đứng lên trên dây thừng và giữ người thanh niên để anh ta không thể di chuyển. Khi tôi giữ chân anh ta, tôi có thể cảm thấy nhiệt độ cơ thể anh ta còn nóng. Tôi cũng thấy cổ anh ta có đầy máu.. Không biết anh ta bị thương lúc nào, nhưng đó chắc chắn là một vết thương.
Lúc này, tất cả nhân viên y khoa khác đã nhanh chóng thay đồ phẫu thuật. Y tá trưởng cắt mở quần áo của người thanh niên với kéo, và rồi lau dung dịch sát trùng từ phần bụng dưới tới ngực của người đó 3 lần.
Sau đó một bác sĩ cầm lấy dao mổ, và rạch một đường dài từ xương ức xuống tận rốn. Chân của anh ta bắt đầu co giật. Sau đó bác sĩ mở toàn bộ khoang bụng dưới của anh ta. Máu và ruột ngay lập tức vọt ra. Bác sĩ đặt ruột qua một bên và nhanh chóng cắt một quả thận; người bác sĩ còn lại cắt quả thận từ bên của anh ta. Họ làm rất thành thạo và nhanh chóng.
Bác sĩ bảo tôi cắt tĩnh mạch và động mạch. Khi tôi cắt, máu lập tức phụt ra. Máu phụt ra khắp tay và thân thể người thanh niên đó. Máu chảy, cũng có nghĩa là chắc chắn anh ta còn sống!
Ở thời điểm này, cả hai quả thận bị lấy ra đã được cho vào trong một thùng chuyên chở nội tạng mà y tá đã cầm.
Tiếp đó, người bác sĩ đối diện yêu cầu tôi phải lấy nhãn cầu của người thanh niên. Tôi ngồi xuống và áp sát vào. Khoảnh khắc đó, mí mắt anh ấy động đậy và rồi anh ta nhìn tôi. Tôi nhìn vào mắt anh ấy. Có gì đó rất kinh hoàng trong mắt anh ấy – điều gì đó không thể diễn tả bằng lời..
Đầu óc tôi trống rỗng, và cả người tôi run rẩy. Tôi cảm thấy khiếp sợ. Tôi đờ ra.
Tôi nói với bác sĩ là tôi không thể làm điều đó.
Đột ngột, người bác sĩ kéo mạnh đầu người thanh niên với tay trái, sử dụng hai ngón tay trái để giữ mí mắt mở, rồi dùng cái kẹp gắp bông ở tay phải để móc nhãn cầu ra. Quá chóng vánh.
Thời điểm đó, tôi đang run rẩy và vã mồ hôi khắp từ đầu tới chân. Tôi cảm thấy mình sắp sụp xuống.
Tôi chợt nhớ tới đêm trước đó tại nhà khách, một quân nhân tới và nói với người chỉ huy của nhóm chúng tôi. Có một câu đã găm vào ký ức của tôi: “Dưới 18 tuổi, cơ thể rất khỏe mạnh và sung sức.” Có phải là nói về người thanh niên này?
Sau khi bác sĩ ra hiệu cho nhân viên ngồi tại ghế hành khách là chúng tôi đã xong, cửa hông bật mở, 4 lính đi vào trong xe thùng, gói người thanh niên vào một túi nhựa lớn, và kéo vào một xe quân đội đang ở gần đó.
Ngay lập tức, xe thùng khởi động, chúng tôi quay lại bệnh viện rất nhanh, được xe quân đội dẫn đường. Tất cả áo, mũ, găng tay phẫu thuật mà chúng tôi sử dụng được gom lại để tiêu hủy sau khi chúng tôi về tới nơi.
Sau khi về tới nơi, nội tạng được chuyển ngay tới phòng phẫu thuật, nơi một nhóm bác sĩ phẫu thuật đang đợi, sẵn sàng cấy ghép chúng cho bệnh nhân trên bàn phẫu thuật.
Lúc này, tôi đã không thể làm được gì nữa; cả người tôi hoàn toàn mệt mỏi. Người chỉ huy thấy vậy và cho phép tôi nghỉ. Tôi ngồi xuống, nhưng vẫn còn có thể thấy họ đang thực hiện ca phẫu thuật.
Tôi bỏ việc ở bệnh viện và quay về nhà. Tôi vẫn cảm thấy cực kỳ yếu ớt và bị sốt cao. Mẹ hỏi tôi có chuyện gì xảy ra, nhưng tôi chỉ trả lời mơ hồ, vì không dám tiết lộ việc này với bất kỳ ai.
Nhưng nỗi đau không dừng lại ở đó. Một mặt, chỉ nghĩ tới ký ức đó thôi cũng thật kinh hoàng, chứ chưa nói đến kể nó ra. Tôi đã trực tiếp chứng kiến việc giết hại tàn khốc một con người, và trái tim tôi cực kỳ bứt rứt. Tôi cũng lo lắng rằng mình sẽ bị chính quyền truy ra và bị sát hại. Gánh nặng đó khiến tôi cực kỳ khốn khổ.
Trong một thời gian dài, cảnh tượng trong chiếc xe ngày đó cứ diễn lại hết lần này lần khác trong óc tôi – cảnh một sinh mệnh giống như chúng ta bị cướp mất nội tạng khi đang còn sống, và nỗi đau và khiếp sợ kinh hoàng bên trong mắt anh ấy khi anh ấy nhìn tôi. Tâm tôi không thể chịu đựng được.. Tôi cảm thấy mình phát điên, và thường xuyên cận kề bờ vực sụp đổ.
Nhiều năm đã qua, nhưng ký ức đáng sợ đó vẫn không thể bị xóa đi. Trong suốt những năm đó, tôi không muốn động chạm tới nó và chủ động lẩn tránh. Bởi vì mỗi khi tôi nói tới, tôi lại không thể kiểm soát hoàn toàn bản thân.
Khi truyền thông thế giới bắt đầu phơi bày việc cưỡng bức thu hoạch nội tạng từ tù nhân lương tâm Pháp Luân Công tại Trung Quốc, tôi lập tức hiểu ra tất cả: Tất cả đều là sự thật, thu hoạch nội tạng cưỡng bức đã tồn tại trong hệ thống quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ rất lâu rồi. Chỉ là cuộc đàn áp Pháp Luân Công đã cung cấp cho họ một nguồn nội tạng lớn hơn rất nhiều mà thôi.
Yi Ling ghi lại, Toronto 2019
Minh Nhật biên dịch

ĐẾN ĐÀI LOAN VÀ NGẪM NGHĨ Lao Ta

ĐN ĐÀI LOAN VÀ NGM NGHĨ
Lao Ta
alt
Lúc máy bay hạ cánh xuống sân bay Đài Bắc, thấy Đài Loan chả khác gì Hà Nội, thậm chí thủ đô Đài Bắc có phần còn kém hiện đại hơn Thăng Long khi nhìn từ trên máy bay, có lẽ vì ít nhà nhiều tầng.
Ra khỏi sân bay, cảm nhận vẫn không mấy thay đổi. Nhưng khi xuống tầu điện ngầm thì khác. Một đất nước Đài Loan hiện đại, nề nếp, tử tế cứ lồ lộ hiện ra.
Sau một ngày một đêm, chứng kiến sự sạch sẽ, yên bình, thì không muốn nói đến chuyện thấy gì thêm nữa, mà cứ ngẫm nghĩ không biết họ làm thế nào mà đạt được sự kì diệu như vậy.
Rồi lên tầu hỏa đi Đài Trung, thì thực sự kinh ngạc về những gì mà Đài Loan làm được. Với hệ thống đường cao tốc ấy, với sự kết nối hoàn hảo ấy giữa các loại phương tiện, có lẽ phải nửa thế kỉ nữa Việt Nam cũng không thể làm nổi. Không phải vì nó cần hàng ngàn tỉ USD, mà là vì khó để có một cái đầu đủ lớn, để có một tầm nhìn đủ xa về tương lai khi đưa ra các hoạch định mang tính chiến lược phát triển quốc gia.
Tự dưng thấy buồn cười và thương hại cho những điều cứ phải nghe ra rả hàng ngày về kiến tạo, liêm chính, bốn chấm không…
Nghĩ suốt trên đường trở về, thấy không phải vô cớ mà người dân Đài Loan sợ nhất hai từ Đại Lục; không phải vô cớ mà các con dân Việt cứ ào ạt đổ sang Đài Loan, sẵn sàng trốn ở lại, dù nhiều người vì thế mà dở sống dở chết; không phải vô cớ mà người Đài Loan kiên quyết không nhận mình là Trung Quốc, dù họ phần lớn từ Phúc Kiến sang.
Nhưng sự kì diệu về phát triển kinh tế của Đài Loan, vẫn chẳng thấm vào đâu so với thứ mà họ tạo ra được về mặt môi trường, phúc lợi người dân cũng như sự yên bình. Không có gì phải nghi ngờ khi nói, xã hội Đài Loan tự do, tự quyết, dân sự hóa tối đa và vì điều đó mà yên bình tốp đầu thế giới, còn sự tiện lợi và phúc lợi mà người dân đang được hưởng, trong đó có y tế, giáo dục, những thứ cứ mãi nát bét ở Việt Nam… thì châu Âu cũng phải nể.
Người Đài Loan hiền lành, tinh tế, trung thực thuộc loại nhất thế giới. Trong khi người Trung Quốc đại lục thì luôn tạo ra ác mộng cho bất cứ đâu họ đặt chân đến. Cùng một gốc, chỉ sau 70 năm, lại khác nhau xa như trời với đất là do đâu thì bất cứ ai cũng biết? Nhưng điều kì lạ hơn là mặc dù hiền lành là thế, chính phủ Đài Loan, vốn coi Đại Lục chả ra gì, bình đẳng với mọi cường quốc, lại vẫn sợ dân của họ một phép. Sợ đến nỗi các quan chức liên tục xảy ra những cuộc tranh cãi nảy lửa trong chính phủ, những cuộc loạn đả nhau tại Quốc hội giữA các dân biểu.
Những sự kiện như thịt nhiễm sán lợn, gian lận thi cử, tai nạn giao thông, cán bộ ăn nói nhăng nhít… mà xảy ra ở Đài Loan, thì không biết bao nhiêu quan chức cỡ bộ trưởng phải từ chức, thậm chí bị truy tố tức khắc.
Chả lẽ thế giới đã đảo lộn mọi trật tự đến mức cứ ở đâu nói nhiều về sự tốt đẹp, sự ưu việt, thì ở đó chắc chắn đang lụn bại; ở đâu mà Quốc hội loạn đả, chính phủ nghiêng đổ như cơm bữa, thì ở đó xã hội yên bình và thịnh vượng, còn ở đâu mà “thống nhất một ý chí” với tuyệt đại đa số biểu quyết tán thành, là ở đó nhân dân đang bị bán đứng?

Lao Ta